Đó là một người trung hậu
Nhưng về Đặc công thì chưa có tiểu thuyết nào, nên mình mới nói với Nguyễn Minh Châu rằng, mời các anh ở Văn nghệ Quân đội xuống cùng với Binh chủng Đặc công và viết về chúng tôi với. - Trung hậu và cũng giản dị lắm.
Ông Mặc Ninh bảo, đưa tôi đọc! Mà ông ấy đọc thật, đọc trực tiếp. Trên đưa anh Oánh lên đảm đương.
- Tôi muốn hỏi điều này. Khi không được thì anh ấy cũng buồn. Hữu Mai cứ khích lệ. Tôi có may mắn được xúc tiếp với nhà văn Dũng Hà khá gần gũi những năm cuối đời của ông vì tôi khá thân với trưởng nam của ông (Thật buồn là người bạn quý mến này đã sớm chết thật vì bạo bệnh, trong khi “lá vàng còn ở trên cây” thì bạn tôi đã mất, nhà văn đã rất đớn đau.
Khi đó, Hữu Mai bảo với tôi, “mày” về làm biên tập với chúng tao. Mình bảo, thôi, chả về, “tao” sợ bị đe lắm. Còn nhà văn Xuân Thiều? - Nhà văn Xuân Thiều bản tính cũng là một người tốt, có chất của người lính. Và không ít người cũng nghĩ như thế về Sao Mai và nhà văn Dũng Hà. Ông đã là chính trị viên tiểu đoàn tham dự chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh chiếm đồi A1.
Chúng ta đã sang đủ mọi thứ rồi nhưng nhìn lại quá vãng thì còn lại vẫn là sự đàng hoàng với nhau chứ không phải chúng ta viết văn để mà thanh toán những ân oán giang hồ, những sự xốc nổi, bột phát và giận dữ nhau.
- (Cũng cười):. Hữu Mai bảo, “tao” thấy “mày” viết được đấy, truyện ngắn Đứng giữa của “mày”, “tao” không phải biên tập chữ nào. - Đó là năm nào? - Khoảng những năm 62-63 - Khi ấy tôi mới sinh ra. Thế rồi trên Tổng cục nói là, thôi, trao đổi thế đủ rồi.
- Hồi nhỏ tôi cũng có đọc “Sao Mai” và thấy thích lắm. Càng đi vào hiện thực ngổn ngang và hiểm của đời sống chiến sĩ đấu tranh, Dũng Hà càng cảm thấy đốm lửa văn học cháy lên trong mình. Lành mạnh nhất của tầng lớp, sống rồi mới viết chứ không phải sống để viết. Tôi nghĩ, suy cho cùng, thái độ của văn học vẫn phải là thái độ nhân ái. Có cảm giác như nhà văn Dũng Hà đã tạo ra được một đứa con ý thức giúp văn nghiệp của ông sống lâu hơn kiếp đời trần thế của tác giả.
Nhiều đồng nghiệp đón nhận bản thảo này một cách trân trọng, coi đó là “sách để đời” của nhà văn Dũng Hà. Nhưng hiện giờ nói riêng cho Hồng phong quang nghe nhé, trên ông Ngọc Tự lại có một cán bộ cấp phòng, ông này cứ thấy sách của cán bộ chính trị viết, lại dày những 600 trang thì nói luôn: “Thủ trưởng quân chính gì mà viết tiểu thuyết dày thế, cắt còn một nửa thôi”. Ảnh trong bài: Minh Trí.
- (Cũng cười): Giải quyết được cái quy chế là anh em nhà văn mừng lắm. Và các anh ấy quyết định đưa tôi về. - Ông ấy đã đọc bản thảo của ông chưa? - Lúc nói câu đó, ông ấy làm vờ vịt là đã đọc rồi nhưng về sau, Ngọc Tự nói với tôi là, thực ra, ông ấy có đọc chữ nào đâu, chỉ vì thành kiến mà “phán” đại như thế thôi.
Khi Binh chủng Đặc công được thành lập, người cán bộ chính trị Dũng Hà lại được chuyển về đây và dần dà trưởng thành tới chức vụ Chủ nhiệm chính trị Binh chủng.
- Khi sách được in ra thì tôi lại vẫn nối cùng lính vào Nam chiến đấu. - Nhà văn Dũng Hà: Tôi về làm Tổng biên tập bổ nhiệm tháng chạp năm 1982. Tôi quyết định cho in, nhưng đưa lên thì đồng chí Cục phó bắt bóc. Tôi kê vali ngoài sân nhà dân ngồi viết. - Nhà văn Hồ Phương cũng là người hay, khi biết vị trí của mình rồi thì đó cũng là một người hay.
Tất nhiên, bản thảo thì có thừa có thiếu, có khen thì có chê, thành thử anh ấy bảo mình nên bớt chỗ này, thêm chỗ kia. Tôi rất muốn được nghe ông nhận xét, ngắn gọn thôi, về những đồng nghiệp thân thiết của ông trong tùng san Văn nghệ Quân đội, nơi mà cá nhân chủ nghĩa tôi luôn coi là một “ngôi đền” văn học của những người lính.
Đó là một vấn đề có thật. - Ra thế, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh mới chỉ là quyền Tổng biên tập. - ( Cười):. Và trên cũng đã giao nhiệm vụ. Ai đó đã nói rằng, để sống cùng hậu thế, phải đi trước ngày bữa nay. - Ông Nam Khánh bảo, được rồi. Biết bao nhiêu công việc mà ông đã phải qua trong một lực lượng “đầu sóng ngọn gió”, luôn giáp mặt với hy sinh nguy hiểm như thế.
- Tôi nghĩ chuyện văn học mới quan trọng với nhà văn, chứ cái chức Tổng biên tập thì nói thật, nó cũng nhỏ thôi.
2. Danh chính ngôn thuận ông từng là chỉ huy một thuở của một loạt nhà văn quân đội và hiện đã thành những tiếng tăm, những thần tượng, những cây đa cây đề trong làng văn Việt Nam.
- Ông Nam Khánh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông ấy bảo là Văn nghệ Quân đội đang cần một người cầm trịch, hiện thời Tổng cục quyết định điều anh về làm Tổng biên tập. Có điều xót xa là, cho tới khi lìa khỏi người đời ngày 1/3/2011 tại Hà Nội, nhà văn Dũng Hà vẫn đau đáu mơ ước về ngày đứa con tâm huyết của mình được tới tay bạn đọc một cách trót. Đó cũng chỉ là một cái ban trợ thì thôi, để viết về trận đánh 30 năm, tôi được cắt cử chủ trì việc ấy.
Sau này sang học ở Liên Xô, tôi cũng có nhìn thấy bản dịch ra tiếng Nga của tiểu thuyết này. Bây chừ nằm mơ cũng khó có cuốn tiểu thuyết nào được in với số lượng như vậy. Tôi chỉ là phương án thứ ba thôi. - Thì cũng có một số người cứ định kiến rằng, cán bộ quân chính thì không biết viết văn. Tuy nhiên, suốt một thời kì dài, ông đã yên tâm làm tốt chức trách “sĩ quan chiến trận” của mình trong Binh chủng Đặc công.
Chuyện này tôi muốn kể với Hồng Thanh Quang: Tôi đưa sang Nhà xuất bản Quân đội, được anh Ngọc Tự biên tập. - Hai cậu ấy bảo với tôi, cậu cứ về, đừng ngại, chúng tớ ủng hộ. Và tôi đã thực hành được một cuộc chuyện trò khá công phu với ông. - Hồng phong quang: Hồi ông từ Binh chủng Đặc công về Tạp chí Văn nghệ Quân đội là năm nào? Ta ôn cố tri tân một chút.
- Tôi muốn biết cảm giác của ông lúc đó như thế nào? - chân tình là mình lúc ấy vẫn không muốn về. Nửa năm sau, vào cuối năm 1974, tác phẩm được in ra và được đón nhận nồng hậu. Nhà văn Dũng Hà tên thật là Phạm Điệng, người huyện Vũ Thư, thanh bình. Anh ấy đối với mình là quan hệ theo kiểu tổ chức thôi, không phải thân nhưng mình có đến nhà anh ấy chơi mấy lần, trò chuyện, tâm tư một số điều.
Lúc đó, tôi còn ở nhờ nhà vợ ở phố Phùng Hưng. Nhưng anh Châu không xuống, lại còn nói, có “thằng” Dũng Hà ngồi đấy thì tôi xuống làm gì, có bao nhiêu tư liệu “nó” nắm hết rồi! (cười). Anh em trong tòa soạn tới chơi. - Oách lắm rồi (cười). - Hữu Mai bảo, “mày” về có anh em giúp đỡ lẫn nhau, biên tập thì tay nghề lên.
Tuy nhiên, Sông cạn chỉ được in ra ở dạng rút gọn và đây là một lý do khiến cho nhà văn Dũng Hà hình như mãi còn trăn trở. - Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Thành ra tôi rất trân trọng anh ấy, tôi quý anh ấy lắm. - Lúc ấy, ông đã viết những tác phẩm nào rồi? - Tôi đã viết Sao Mai , một số truyện ngắn và tiểu thuyết Mảnh đất yêu thương xuất bản năm 1978.
Về sau, Ngọc trẫm mình nói với tôi là, anh trưởng phòng ấy có đọc trang nào đâu.
Mình gặp Hữu Mai ở hồ Thiền Quang. Anh trưởng phòng lúc ấy nói ngay: “Tôi đồng tình với quan điểm của anh” (cười). Nguyễn Minh Châu là một người vô tư, không ham công danh, không màng danh lợi. Lúc đấy không ít người có thành kiến với những cán bộ chính trị lại say mê sáng tác văn học đấy. Ông kể: “Năm 1974, sau khi được trực tiếp tham dự mấy chiến dịch của đặc công, tôi bỗng nảy ra ý định táo tợn: Mình là người trong cuộc, có vốn sống trực tiếp đặc công, sao lại không viết nhỉ?”.
). Riêng bản thân Dũng Hà không an phận. Cuộc gặp hôm ấy có bốn người: ông Mặc Ninh, Giám đốc; ông Ngọc Tự, biên tập viên; cái ông là trưởng phòng biên tập, cấp trên trực tiếp của ông Ngọc Tự và tôi.
Các anh ở Bộ Tư lệnh đồng ý, thế là tôi ngồi vào viết. Hữu Mai bảo, “mày” (tôi với anh ấy vẫn hay xưng hô với nhau là mày - tao) về làm Tổng biên tập cũng được chứ sao.
Tôi mới vào gặp Phó chủ nhiệm Tổng cục Nguyễn Nam Khánh và bảo, thưa anh, tôi thấy thế này là không được, tôi cũng từng là Chủ nhiệm Chính trị ở Binh chủng về, tôi cũng có tinh thần chứ.
Mình là người lính dưới đơn vị lên, mình quen nói thẳng. - Xin cảm ơn nhà văn Dũng Hà!. - Một người nguyên là cán bộ Quân chính Đặc công về cáng đáng các nhà văn, thi sĩ (cười).
- Lần trước hết mới có… - Mới có quyển viết về Đặc công đấy. Trước khi về Văn nghệ Quân đội, ở Binh chủng Đặc công, ông đã giữ cương vị gì? Chính ủy? - Không, tôi chỉ là Chủ nhiệm chính trị Binh chủng thôi. Sau giải phóng Sài Gòn, lại in nối bản hai vạn bảy nữa. - Hai nhà văn ấy hay đi với nhau lắm. Và thứ ba, đưa Dũng Hà về. Cũng vì không thấy anh Châu xuống nên tôi mới nói với Bộ Tư lệnh Đặc công rằng, thôi, họ không xuống được thì tôi viết, các anh cứ cho tôi mấy tháng để viết.
Và trên quyết định bổ nhiệm anh Hồ Phương làm Phó tổng biên tập. - Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể nói tới mọi chuyện một cách chân thực, thực lòng, quan yếu là nói như thế nào và nhận định như thế nào cho đúng. Với Hồ Phương thì trước tôi đã quen rồi, quen từ hồi anh ấy lên Tây Bắc, thủ trưởng đơn vị của tôi mến mộ anh nhà văn nên mời Hồ Phương đến chơi và ở đó mình đã làm quen với Hồ Phương.
Viết xong, tôi cho người đưa sang nhà xuất bản. - Ông có thấy nhà văn Xuân Thiều đã bị giằng co ở mâu thuẫn, một mặt rất muốn làm một sĩ quan quy củ, nghiêm ngắn, nhưng mặt khác có những khát vọng văn học lớn hơn vơ những khuôn khổ của đời thường thời bấy giờ? - Anh ấy là một người tốt và cũng muốn làm cái gì lớn hơn ở ngoài Hội Nhà văn.
Như vậy là coi như mình tương đương cấp Cục, là một trong sáu làm mai trực thuộc Tổng cục.
- Sao Mai là cuốn sách mình viết khi còn ở đơn vị, còn trực tiếp đưa lính đi đánh giặc. Anh ấy chỉ đề nghị là tạo điều kiện im để anh ấy viết, đừng có động đến anh ấy. Nghiệp viết đã đưa ông về Tổng cục Chính trị và sau năm 1975, được phân công làm Trưởng Ban Ký sự lịch sử quân sự.
- Tức là ông ấy bị định kiến đến mức, hễ cứ nhìn thấy cán bộ chính trị là bắt đầu bảo ngay là không viết được. Và rồi ngay sau đó thì phóng thích Sài Gòn.
Hữu Mai nói với tôi thế. # In và phát hành tháng 10/2005. Tiếp theo, ông cùng đơn vị của mình tham gia công tác làm kinh tế. Hữu Mai bảo, một mai, những chi tiết gì ở trong quyển sách người ta sẽ quên hết, nhưng cái người ta còn nhớ là thái độ của tác giả với vấn đề đặt ra như thế nào thì “cái chỗ thái độ của mày rất được”! Đúng như Quang vừa nói đấy.
Cảm nhận của tôi liệu có đúng không? - Tôi thấy nếu trên bổ dụng anh ấy làm Tổng biên tập thì cũng được đấy. Còn nhớ, tôi đã rất xúc động khi cầm trên tay cuốn tiểu thuyết còn thơm mùi mực Sông cạn mà ông tặng với lời đề tựa mà quả tình là tôi đã đỏ mặt đọc vì xúc động và cảm thấy mình quá được ưu ái: “Thân yêu tặng người đồng đội, đồng nghiệp, đồng chí, người bạn vong niên, người trí thức cách mạng.
Đấy là cảm nhận của tôi, nhưng với ông thì khi ông viết “Sông cạn”, mục đích bắt đầu là gì? - Tôi cũng viết như thế đấy… - Không phải để trách cứ ai cả, mà để ôn lại đời chúng ta để yêu hơn cuộc thế này ngay cả trong những cảnh huống đau đớn nhất
Tôi cứ xin rút mãi, tôi bảo, úi trời, tôi xin thưa với anh, tôi là anh thủ trưởng quân chính, viết văn nghiệp dư, hiện thời tôi đang viết bộ sách ký sự chính trị đây này, tôi về tập san Văn nghệ Quân đội thế nào được, tôi không về đâu.
Một phần tiểu thuyết này đã được Nhà xuất bản Quân đội quần chúng. Ông tự nhận mình là “không có tài bẩm sinh”. Viết mới được 100 trang thì tàu bay Mỹ đánh tới ga Hàng Cỏ, Bộ Tư lệnh Binh chủng phải sơ tán lên Bất Bạt. Có tương đương cấp Cục thì anh Tổng Biên tập mới lên Đại tá được. Ông ấy khen lắm, ông ấy bảo viết được lắm. Ông không có tham vọng làm bằng mọi cách để tạo dấu ấn, mà trước hết là miêu tả những gì có thật trong thế cuộc mình để thực thi công vụ và phục vụ những lợi.
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu là người như thế nào? - Nguyễn Minh Châu là người hay đấy. Đã viết nhiều tiểu thuyết, ví dụ như Những tầm cao, Những người cùng tuyến, rồi Vùng trời … về đủ các quân, binh chủng. Chính trong tâm trạng ấy, Dũng Hà đã hoàn tất Sao Mai , bộ tiểu thuyết cho tới nay được đánh giá là hay nhất về Binh chủng Đặc công, trong vòng 60 ngày, dày 600 trang bản thảo.
Khi tôi làm Tổng biên tập, anh ấy làm Phó tổng biên tập, anh ấy coi trọng tôi trong việc duyệt bài vở lắm, chấp hành nghiêm túc những quan điểm của Tổng biên tập về việc bài nào đưa, bài nào không đưa.
Và ông đã phải đối mặt với vấn đề đó khi viết xong tiểu thuyết “Sao Mai”. Vậy mà hai chục năm sau, năm 1982, đùng một cái tôi lại về Văn nghệ Quân đội. Nhưng anh ấy cũng là một cán bộ rất có ý thức tổ chức. Tôi nghĩ, đấy cũng là một trong những ấn tượng lớn trong nền văn học Quân đội dân chúng của mình.
Nghĩa là rất muốn là một công chức ngoan nhưng tâm hồn thì cũng náo động theo những ham muốn văn học. Bài vở Văn nghệ Quân đội làm xong là phải đưa qua đấy, họ đọc xong ừ hay không ừ thì mới đưa vào Cục phó Cục Tuyên huấn duyệt ký và lúc đó mới được in. Vành nguyệt quế, dù mới chỉ ở mức hoàn tất tốt nhiệm vụ văn chương, của Sao Mai có lẽ đã phủ xuống che đi nhiều bộ sách sau của ông.
Thấy vậy, Hữu Mai mới nói kháy: “Thôi, anh thích làm quan thì anh cứ yên vị, tùy anh”. Mình giật nảy lên, chết chết tôi làm thế nào được.
Tôi về làm theo những lời khuyên của anh Mặc Ninh và tựu trung là dung lượng vẫn thế, vẫn còn hơn 600 trang (cười). Viết trong 3 tháng, nhưng tổng số ngày ngồi viết thì chỉ khoảng 60 ngày, được 600 trang. Anh ấy nói: “Tôi đọc đến chương thứ 7, thứ 8, tôi sướng quá, tôi định gọi điện động viên ông, tôi bảo ông xuất thần viết mấy chương này cực hay”.
Cho tới năm 1972, tôi vẫn còn trực tiếp chỉ đạo đánh chiến thuật cơ. Nhà văn Dũng Hà (phải) và nhà thơ Hồng phong quang.
Anh ấy bao giờ cũng bỏ phiếu cho tôi. Từ đó ông ít xuất hiện trên báo chí, ít giao dịch hội hè và khác một số người, đích thực không có tham vọng gì để chứng tỏ vai trò từng nổi bật của mình trong các hoạt động ngoài trang viết. Không phải nhà văn nào cũng vượt qua được “dấu son” của thời sung sức. Và tôi đã làm Tổng biên tập ở đó 12 năm - Cũng hoành tráng đấy chứ ! - Cũng “ghê”, 12 năm! Nói thật ra mình vừa làm vừa học và đúng là bài vở thì Hồ Phương làm tất, làm xong thì mới đưa đến tôi là người đọc sau rốt.
Mà ở tùng san Văn nghệ Quân đội lúc đó có mỗi cái ghế Tổng biên tập thì ông đã ngồi rồi (cười). Khi sáp nhập rồi, nhà thơ Thanh Tịnh rút ra, nhà thơ Vũ Cao chuyển ra ngoài làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội.
Vậy khi một cán bộ chính trị cấp Binh chủng như ông về ngồi vào cái ghế lãnh đạo bậc nhất ở tập san Văn nghệ Quân đội, nơi hội tụ những tên tuổi văn học danh giá nhất mặc áo lính, với những tăm tiếng rất “ghê gớm” hồi ấy như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Xuân Thiều. Rồi ông được phân công làm nhiệm vụ giải tù binh Pháp về Thanh Hóa.
- Đấy là thời huy hoàng nhất của ông, có đúng vậy không ạ? - Đúng thế. Và cũng ngay từ lúc trẻ, ông đã rất tỉnh táo khi nhìn vào công việc sáng tác của mình. Thứ nhất, đưa anh Cục phó Cục Tuyên huấn về kiêm Tổng biên tập; thứ hai, đưa nhà văn Hữu Mai lên.
- Người tiền nhiệm của ông là ai lúc ấy? - Tiền nhiệm của tôi là ông Nguyễn Trọng Oánh, quyền Tổng biên tập.
Tuy nhiên, ông Ngọc Tự không tán thành với thái độ của anh cán bộ kia nên mang bản thảo lên gặp ông Mặc Ninh, lúc đó là Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội. Ở Hà Nội thì Hồ Phương đến nhà mình chơi, cùng với Xuân Thiều. - (Cũng cười): Quý lắm. Lúc ấy, những nhà văn quân đội ở nhà như các ông Hồ Phương, ông Hữu Mai.
Thậm chí, ông đã từng bị dính đạn và hiện mang vết thương vĩnh viễn trong mình. Ông ấy bảo, cậu cứ về đó, chúng tôi đã cân nhắc rồi. ”. 1.
Lúc ấy tôi bảo với Hữu Mai, “tao” về “tao” biết làm cái gì, mình làm văn nghiệp dư mà, “chúng nó” toàn nhà văn có sừng có mỏ cả, “tao” về thế nào được, “tao” không về đâu. Hữu Mai còn bảo, “mày” về “mày” chỉ làm “Thái thượng hoàng” thôi, còn về lĩnh vực báo chí giờ thì bảo Hồ Phương làm giúp “mày”!.
Tôi còn bảo, tôi về có khi bị “đánh” đấy chứ (cười). - Anh em Đặc công? - Anh em Đặc công. Ngay từ khi còn trẻ, Dũng Hà đã mày mò viết văn. Ngọc Tự hoan nghênh lắm, bảo với tôi, ông là thủ trưởng chính trị của Binh chủng mà ông viết được thế này là tốt lắm rồi. Nguyễn Minh Châu không ham công danh, không kèn cựa cái gì.
Bác Oánh viết tiểu thuyết “Đất trắng” rất giá trị nhưng thơ của ông cũng hay lắm, đầy nỗi niềm tình cảm. Lúc làm việc cũng như lúc đi uống bia mỗi chiều ở Câu lạc bộ Quân đội trên đường Hoàng Diệu.
Ông Nam Khánh gọi tôi lên tới hai lần để thuyết phục. Thế rồi, tôi đưa bản thảo lên, ông Mặc Ninh hỏi ý kiến anh trưởng phòng: “Tôi thấy tốt, anh thấy thế nào?”.
Tuy nhiên, mong ước dẫu thầm nhưng không bao giờ nguôi trong lòng là làm sao nói được những gì “tai nghe, mắt thấy, tim cảm” thành tiếng nói văn học thì không lúc nào buông tha cho ông.
Thế là các anh lãnh đạo Tổng cục Chính trị đã bàn với nhau và cho tùng san được tách ra khỏi Cục Tuyên huấn và làm việc trực tiếp với Tổng cục. Tới năm 1982, ông được phân công làm Tổng biên tập tùng san Văn nghệ Quân đội và được phong quân hàm Thiếu tướng. Khi tôi viết quyển Sông cạn, anh ấy bảo đưa cho anh ấy đọc giám định.
Cho tới lúc ngồi vào viết Sao Mai , trước đó, tôi cũng đã từng đi mấy chiến dịch với anh em, trực tiếp chỉ đạo bộ đội tác chiến, rồi làm Phó chủ nhiệm Chính trị, tham dự Đảng ủy Binh chủng.
- Tôi cảm nhận về nhà văn Xuân Thiều là con người đã có thời đoạn chìm trong một sự mâu thuẫn, một mặt rất muốn phát huy cái tinh túy văn chương của mình, mặt khác rất muốn ngoan ngoãn để hài lòng sờ soạng những yếu tố đời thường.
Chừng như cho tới khi ông về hưu, không ai hy vọng gì vào ông thêm nữa, dẫu sao đã có được Sao Mai là quá tốt cho một cựu chính ủy Binh chủng. In nhanh lắm. Đang viết dở dang, mới xong tập 1 thì một hôm ông Nam Khánh. Họ đề nghị cho mỗi chiến sĩ hai quyển Sao Mai, một để đọc, còn cuốn thứ hai là gửi cho tình nhân làm kỷ niệm.
- Chuyện là thế này. Ông ấy bảo, Dũng Hà ở đơn vị chống chọi mà viết thế này thì giỏi quá, gọi tác giả lên đây.
Có một lần tôi phản ứng nên chi này: tùng san định in truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
Tôi biết chuyện này vì khi ấy cha tôi, cũng là một sĩ quan quân đội, hay cùng hai nhà văn này ngồi sau giờ làm việc ở đó. Chúng ta chỉ không được hay khi có ảo tưởng khác về bản thân mình thôi. - Tôi đã rời khỏi Đặc công, đeo quân hàm Thượng tá, làm Trưởng ban Ký sự lịch sử quân sự. - Chúng ta vừa nhắc đến chuyện mà có nhẽ ngay hiện thời vẫn là vấn đề trầm kha trong ấn tượng của một số người làm văn học nghệ thuật chuyên nghiệp đối với những cán bộ làm thuê tác chính trị nhưng lại có năng khiếu văn chương và muốn viết văn.
Khi ấy tôi đã ở Ban Ký sự lịch sử quân sự, Tổng cục Chính trị… - tức thị ông rời khỏi Đặc công rồi đấy. Đến lúc ấy mà cái ông trưởng phòng đó vẫn chưa đọc dòng nào trong bản thảo của tôi. - Chê ngay, không cần đọc! Thế nhưng, trong cuộc gặp hôm ấy, anh Mặc Ninh bảo với tôi, cậu là thủ trưởng quân chính, đi đánh giặc với lính mà viết được thế này thì phải nói là rất giỏi, rất hoan nghênh.
Nguyễn Minh Châu là nhà văn sừng sỏ của mình đấy chứ và truyện ngắn đó là Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành , là truyện lớn, truyện giá trị chứ.
- Khi tôi về làm Tổng biên tập, vị trí Văn nghệ Quân đội chỉ như một phòng nằm trong Cục Tuyên huấn thôi và trực tiếp quản lý bài vở của Văn nghệ Quân đội lại là Phòng Quản lý văn hóa văn nghệ quần chúng. Nhân kỷ niệm 84 năm ngày sinh của nhà văn Dũng Hà, tôi muốn san sẻ lại cùng bạn đọc một phần nội dung của cuộc chuyện trò đó, để ta thêm hiểu về một vị tướng nhà văn từ tâm và khả kính.
Và gọi tôi lên giao nhiệm vụ. - Tức là do định kiến. Nhưng sau đó, khi anh em ở Văn nghệ Quân đội bàn thảo tìm tổng biên tập công khai, tới ba tháng, chỉ hợp nhất được ba phương án.
Tôi về rồi mọi sự cũng yên ổn. - Và sau đó mới lên Thiếu tướng được (cười). Hữu Mai cũng “dỗ” tôi về; Xuân Thiều, Hồ Phương đều “dỗ” tôi về. Ông Nam Khánh cổ vũ tôi về và nói thế này: Chúng tôi không đề nghị anh viết, anh về anh làm quản lý, anh duy trì nội bộ cho nó ổn định tờ tập san cho tôi. Với một nhà văn, đó chẳng phải là một niềm hạnh phúc và may mắn thực thụ hay sao, dù rằng, cần phải có thêm thời kì để từng lớp “chín” tới lúc có thể thăng bằng tâm trí đón nhận nó.
- 27 nghìn là oách đấy. - Tôi đã đọc quyển “Sông cạn” của ông và nói thực là, tôi đã khóc trên rất nhiều trang.
Đầu tiên, về nhà văn Hồ Phương? - Tôi phải nói thẳng thế này, anh Hồ Phương là nhà văn quân đội có bề dày, xứng đáng làm Tổng biên tập lắm chứ. Lúc đó chúng ta sáp nhập ba tập san văn học nghệ thuật trong lực lượng vũ trang lại với nhau: tùng san Văn nghệ Quân phóng thích ở miền Nam vốn do anh Nguyễn Trọng Oánh đảm đang; một Tạp chí của Văn nghệ khu V do anh Nguyễn Chí Trung chủ trì và tùng san Văn nghệ Quân đội ở ngoài này do thi sĩ Vũ Cao và thi sĩ Thanh Tịnh đảm nhận.
- Thế lần in đầu của tiểu thuyết “Sao Mai” là bao lăm bản ạ? - 27 nghìn cuốn. Những thăng trầm và bể dâu của cá nhân chủ nghĩa cũng như những người nhà trong dòng tộc (từng dự cách mạng từ sớm, có nhiều thành tích nhưng vì quá thật tâm và bộc trực nên đã phải gánh chịu không ít những thử thách ác liệt, may mà cuối cùng đều tai qua nạn khỏi) cứ ám ảnh ông và giục giã ông cầm bút.
Và tịnh vô anh ấy không bao giờ làm việc gì không hay với mình. Như nhiều người cùng đời, ông đã gia nhập quân đội từ năm 17 tuổi và sang trọng rất nhiều chiến trường.
Đọc xong, ông ấy cũng khen lắm. - Tôi nói Quang nghe nhé, Hữu Mai trước khi chết có gặp tôi, cũng khen tôi như Quang vừa nói. Năm 1993, Dũng Hà về hưu và ở lại trong ngôi nhà nhỏ ba tầng ở ngõ số 8 phố Lý Nam Đế.
Thực ra, khi tôi còn ở đơn vị thì anh em ở tập san cũng đã rủ tôi về làm biên tập viên sau khi tôi được in mấy truyện ngắn. - (Cũng cười): Đấy, lúc đó Lê Lựu cũng đã nói đùa một câu na ná như thế. Ngoài Sao Mai , những tác phẩm có ấn tượng của nhà văn Dũng Hà là các tiểu thuyết Mảnh đất thương xót (1978), Đường dài (1987), Quãng đường xưa in bóng (1989) cũng như những tập truyện ngắn Gió bấc (1963), Cây số 42 (1996).
- Tức thị năm vạn tư? - Năm vạn tư! Rồi trên tờ nhật báo Sài Gòn giải phóng lại in liền mấy tháng Sao Mai. - Trung hậu, giản dị. - Tôi hiểu rồi. Và năm 1996, ông đã âm thầm hoàn thành lần đầu tập bản thảo tiểu thuyết Sông cạn.
Mình bảo, thôi, “tao” xác định “tao” viết tay trái thôi. Tới tháng chạp năm 1974 đã có sách in xong rồi. Rồi trên quyết định đưa tôi ra làm Tổng biên tập. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở giai đoạn cao trào, Dũng Hà được điều về Quân chủng Hải quân. Ông sinh ngày 15/8/1929. Trong “Sông cạn” của ông, tôi cảm nhận rất nhiều sự nhân ái, tức thị đời sống của một sĩ quan đớn đau như thế, nó bị đoạn trường, hệ lụy như vậy mà rút cuộc vẫn là tình cảm, nhất là chương cuối ông viết.
Thì cảm giác của ông như thế nào? - Tôi cứ nói nhé, còn sử dụng thế nào thì tùy Hồng phong quang.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét