Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Tiếng vọng dĩ vãng từ "Sóng hận sông Lô".

Đó là dấu ấn và quyền năng mềm của người kể lại lịch sử

Tiếng vọng quá khứ từ

"Sóng hận sông Lô” muốn đọc trong các văn bản quá khứ "sự thực lịch sử thời Lê sơ quanh mạng và cái chết oan ức, tức tưởi của Trần Nguyên Hãn”, tức là ở đây lịch sử của thời đại, của một triều đại được nhìn qua căn số cá nhân: lịch sử chiến tranh, lịch sử chính trị - trước hết là lịch sử của tinh thần và số mệnh con người cụ thể.

Trong chính sử ghi Thánh Tông giải oan cho họ vào năm 1465”. Ở đây, chỉ có những nhân vật có quyền lực, có tham vọng quyền lực mới tạo ra các mật ngôn, giấu giếm chúng.

Đối lập giữa ngày nay (hiện hữu) - quá khứ (vắng mặt), cái chết - sự sống, bình hòa ổn định - tranh đoạt bất ổn, mất - còn, ra đi - trở về, dùng - bỏ, khuyết vắng - thay thế, mong muốn - cấm đoán, liên tài - đố kị, tin tưởng - tị hiềm, phá hủy - kiến tạo….

Cái bất biến (cấu trúc) của hệ thống nghệ thuật "Sóng hận sông Lô” là sự Đối lập. Biểu thị, giải thích lịch sử đan xen trong các hồi ức, kí ức, người viết tự do dò hỏi tâm thức, lịch sử tinh thần của nhân vật, linh hoạt chuyển mạch tự sự, có thể tô đậm nhân vật, sự kiện này theo chủ ý nghệ thuật riêng, hoặc làm mờ chi tiết, sự kiện, nhân vật khác theo các vai trò, chức năng của chúng.

Ở đây người viết vừa dịch lịch sử từ ngôn ngữ tâm linh vừa đọc lịch sử từ những chứng dẫn lịch sử nguyên gốc Hán Nôm của các sử gia triều Lê và triều Nguyễn, các văn bia cổ, ngọc phả tại các đền miếu, các sách hoặc bài viết của các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại”; vừa mường tưởng, phán đoán, vừa biên chép, phân tích, điều chỉnh lại chính sử từ nhận thức, quan niệm của cá nhân: "Chiến dịch Tây Bắc dẹp loạn Đèo Cát Tư Hãn do Lê Tư Tề và Lê Sát chỉ huy, ghi chép vào năm 1430, nhưng tác giả đẩy lên sớm 1 năm (mùa xuân 1429) để trùng hợp lúc đó Trần Nguyên Hãn còn sống, kèm cặp, khuyên bảo Tư Tề - con cả của Lê Lợi về văn hóa và kiến thức binh pháp.

Lịch sử được diễn giải trong "Sóng hận sông Lô” không chỉ là lịch sử Đại Việt mà cả lịch sử nhà Minh, lịch sử của chúng ta và lịch sử của chúng nó. Ngoài lời vào sách, chú thích, "Sóng hận sông Lô”, gồm 12 chương. Ông quan tâm phân tích "lý do hành động” của các nhân vật, giảng giải cho bạn đọc thấy vì sao nhân vật lại hành động như thế này hay thế khác, vừa mã hóa lịch sử theo những tiếng nói quyền lực.

Đối nghịch vận hành như một quy luật nội tại, một nguyên tắc tổ chức thế giới nghệ thuật "Sóng hận sông Lô”. Ông đổi thay thời kì sự kiện để kiến thức lịch sử trong "Sóng hận sông Lô” trở thành tri thức đơn nhất, để câu chuyện lịch sử ở đây có một logic mới mẻ, có những ý nghĩa mới theo ngữ cảnh cụ thể.

Nghĩa là Vũ Ngọc Tiến đã tạo được cho nhân vật của mình những ngôn ngữ riêng, nhân vật được nói bằng ngôn ngữ hiệp với vị trí, chức năng của họ… Mai Vũ.

Ông cấp cho nhân vật tên tuổi, lai lịch để nó có "cơ sở” nhập vào hệ thống lịch sử và nhờ đó có số riêng. Trong lời vào sách và chú giải cho cuốn sách, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không úp mở về cách cấu trúc lịch sử của mình.

Ở phần cuối chuyện (Vĩ thanh), tác giả cho Lê Thánh Tông tẩy oan cho Nguyễn Trãi và hàng loạt các sĩ phu triều Lê Thái Tổ, Thái Tông đều xảy ra vào năm 1459, tức thị ngay sau khi hoàng tử Tư Thành lên ngôi. Bên cạnh kiến thức lịch sử chiến tranh, lịch sử chính trị, Vũ Ngọc Tiến còn cho độc giả thấy những hiểu biết sâu sắc của ông về địa lý, tín ngưỡng, tôn giáo, tư tưởng, văn hóa, tâm lý của con người thời Lê sơ.

Tiểu thuyết của Vũ Ngọc Tiến vừa giải mã lịch sử, giải thích các sự kiện, hành động, biến cố lịch sử qua các dòng ý thức, các hồi tưởng của nhân vật. Những điểm mù của lịch sử, những chỗ chính sử ghi chép mờ, hoặc có nhiều thông báo mâu thuẫn nhau, Vũ Ngọc Tiến lấp đầy lịch sử bằng các chọn lựa, các mường tượng, suy luận logic, cốt làm sao cho lịch sử trở nên sống động, "trung thực nhất”.

Một trong những thành công của Vũ Ngọc Tiến chính là đã sáng tạo ra trạng thái tâm lý của từng nhân vật, ông đã sử dụng rất tự nhiên dòng ký ức, dòng hoài niệm, cảm giác, ảo giác, ý chí để giảng nghĩa duyên do dẫn đến hành động và kết cục của mỗi nhân vật, để cho các nhân vật biểu thị khách quan những cảm giác, suy tư về nhau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét